Lào Cai-Có Nhiều Bước Tiến Mới Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp

Ngành nông nghiệp Lao Cai phấn đấu không ngừng sau khi tái lập tỉnh năm 1991, cho đến nay nông nghiệp tỉnh cơ bản bảo đảm an ninh lương thực và đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân.

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở tài nguyên môi trường, Sở khoa học công nghệ, Sở công thương, Hội nông dân tỉnh phối hợp, tham mưu đưa ra đề xuất nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ quỹ đất, tìm kiếm đầu ra sản phẩm, hỗ trợ con giống, giống cây trồng, phân bón,… Hình thành mô hình chuyên canh trên cánh đồng mẫu lớn để tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng chất lượng, giải quyết lao động thời vụ địa phương. Đồng thời, xây dựng liên kết nhà nước-nhà doanh nghiệp-nhà khoa học-nhà nông tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện cho nông nghiệp tỉnh nhà.

Giai đoạn 2011-2015, giá trị sản xuất nông nghiệp Lào Cai tăng trung bình từ 9-10%; năm 2015 tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động bất lợi nhưng nông nghiệp tỉnh vẫn tăng 6%/năm. Từ năm 1991-1992 cơ cấu nội ngành có chuyển biến tốt, cụ thể tỷ trọng chăn nuôi toàn tỉnh tăng từ 19,2% lên 40,9%; ngành trồng trọt tỷ trọng giảm từ 80,8% xuống 59,1%(2015). Bình quân lương thực đầu người năm 1991 là 200kg/người/năm tăng lên 460kg/người/năm trong năm 2016, góp phần đảm bảo an ninh lương thực.

Lào Cai áp dụng thành công mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hiện nay đã xây dựng vùng chuyên canh cây trồng chất lượng cao: 4.182 ha lúa giống cải tiến SRI, 641ha cây ăn quả nhiệt đới, 73 ha cây dược liệu, 282 ha cây ăn quả nhiệt đới, 650ha chè, 1.135 ha chuối cấy mô, 175ha rau an toàn, 880ha dứa cao sản,…Giá trị sản xuất trên 1ha đất tăng từ 6 triệu vnd (1991) lên 56 triệu vnd (2016). Đáng chú ý, giá trị canh tác có áp dụng công nghệ cao đạt 209 triệu vnd/ha (2016).

Các cơ quan khoa học của tỉnh đã nghiên cứu và lai tạo thành công giống lúa lai LC270, LC25 được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xếp vào bộ lúa giống quốc gia. Không những vậy, họ còn nhân giống cá chép, cá bỗng, trái lê tai nung, mận Lào Cai, đào Pháp; bằng công nghệ nuôi cấy mô sản xuất giống dâu tây, khoai tây, hoa đồng tiền, hoa hồng,…cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh.

Lĩnh vực lâm nghiệp, hàng năm đều triển khai trồng rừng mới, thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tập trung bảo vệ rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn. Tỷ lệ che phủ rừng của Lào Cai tăng 18,2%(1991) lên 53,6%(2016), đóng góp đáng kể cho ngân sách và tạo cân bằng môi trường sinh thái.

Ngành chăn nuôi đã hình thành mô hình trang trại lớn, đầu tư khoa học kỹ thuật, áp dụng mô hình sản xuất con giống, thức ăn, chuồng trại, quản lý, theo tiêu chuẩn VietGap. Tuy nhiên chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm đa số, mùa đông trâu bò hay bị chết rét gây tổn thất cho bà con nông dân.

Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đặt ra mục tiêu đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt trung bình 6%/năm; giá trị bình quân đất canh tác đạt 80 triệu vnd/1ha, giá trị sản phẩm nông nghiệp áp dụng công nghệ cao trên diện tích đất 1ha phải đạt 260 triệu vnd; độ che phủ rừng cả tỉnh đạt 56%; tổng sản lượng lương thực đạt 330.000 tấn,…Để thực hiện đạt và vượt mục tiêu trên các cấp, ban, ngành cần nỗ lực nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý, tháo gỡ khó khăn cho nông nghiệp, mời gọi doanh nghiệp đến đầu tư; quảng bá sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao của Lào Cai ở hội chợ trong và ngoài nước; thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, đưa kỹ sư giỏi về địa phương hỗ trợ bà con nông dân,…

 

Video: Lào Cai tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghệ cao

Ninh Bình Chú Trọng Phát Triển Kinh Tế Gắn Kết Bảo Vệ Môi Trường

Trong những năm qua, Ninh Bình thực hiện nhiều giải pháp như ban hành cơ chế, chính sách, cải cách thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, xúc tiến đầu tư đã thu hút nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đến đầu tư trong các khu công nghiệp của tỉnh. Tỉnh Ninh Bình,TP-Đà Nẵng, TP-Cần Thơ  là một trong ba tỉnh, thành phố của cả nước được Bộ kế hoạch và đầu tư, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) chọn tham gia dự án “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững tại Việt Nam”.

Giám đốc Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Ninh Bình, ông Hoàng Đức Long phát biểu: “Mười năm trở lại đây, Ninh Bình chú trọng phát triển công nghiệp, xem việc hình thành các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh là động lực đưa phát triển kinh tế địa phương, giải quyết việc làm, tăng thu ngân sách.”

Hiện nay, toàn tỉnh có 7 khu công nghiệp là Tam Điệp 1, Gián Khẩu, Tam Điệp 2, Khánh Phú, Phúc Sơn, Khánh Cư, Kim Sơn.

Khu công nghiệp Tam Điệp 1 có diện tích 64 ha, tọa lạc trên địa phận xã Quang Sơn (TP-Tam Điệp) thu hút 16 dự án đầu tư, đã có 12 dự án hoạt động sản xuất, giải quyết việc làm cho hơn 14.000 lao động địa phương và vùng lân cận.

Khu công nghiệp Gián Khẩu có tổng diện tích qui hoạch 262 ha, nằm trên địa phận ba xã Gia Trấn, Gia Tân, Gia Xuân thuộc huyện Gia Viễn; hiện có 28 dự án đăng ký đầu tư, có 14 dự án đã đi vào sản xuất-kinh doanh, thu hút trên 7.000 lao động.

Khu công nghiệp Khánh Phú được thành lập năm 2004, có diện tích qui hoạch 351 ha, tỉnh đã cấp phép đầu tư cho 39 dự án, có 14 doanh nghiệp đi vào hoạt động, tạo công ăn việc làm trên 7.000 lao động.

Khu công nghiệp Phúc Sơn có diện tích mặt bằng 142 ha, nằm trên địa bàn TP-Ninh Bình, thu hút 14 dự án đầu tư, có 2 dự án chính thức hoạt động, giải quyết việc làm cho gần 3.500 lao động.

Theo số liệu từ Sở Công Thương, năm 2015 bốn khu công nghiệp (Tam Điệp 1, Gián Khẩu, Khánh Phú, Phúc Sơn) nộp ngân sách tỉnh gần 2.000 tỷ vnd; năm 2016 đóng góp 3.000 tỷ vnd cho ngân sách tỉnh nhà.

Tổng số dự án đăng ký đầu tư  được tỉnh Ninh Bình cấp phép là 101 dự án, đã có 54 dự án đi vào sản xuất, giải quyết việc làm trên 30.000 lao động.

Trong suốt quá trình hình thành và phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp trọng điểm các cấp lãnh đạo thường xuyên đôn đốc, chỉ đạo công tác bảo vệ môi trường trong và ngoài khu công nghiệp đảm bảo môi trường nước, không khí, đất luôn nằm trong giới hạn cho phép của pháp luật. Những dự án trước khi được cấp giấy phép đều được thẩm định, đánh giá tác động môi trường, tỉnh Ninh Bình kiên quyết khước từ dự án có công nghệ lạc hậu có thể gây tác động xấu cho môi trường.  Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh phối hợp cùng Sở tài nguyên và môi trường, Phòng Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường, các cơ quan trực thuộc Bộ Tài nguyên và môi trường tổ chức nhiều đoàn công tác đến thanh tra, kiểm tra hoạt động xử lý chất thải các doanh nghiệp có nguy cơ xảy ra vi phạm môi trường trong  khu công nghiệp. Tuy nhiên, một số cơ sở sản xuất đã gây ô nhiễm môi trường nước, không khí vượt quá qui chuẩn nên Ban quản lý các khu công nghiệp tiến hành kiểm tra xử phạt những đơn vị vi phạm và yêu cầu doanh nghiệp phải sớm khắc phục không để tái diễn tình trạng trên.

Để phát triển nền kinh tế xanh khi mời gọi đầu tư thì việc triển khai mô hình khu công nghiệp sinh thái được xem là lựa chọn đúng đắn nhất nhằm giải thiểu sự cố môi trường, tiết kiệm năng lượng vì mục tiêu phát triển bền vững. Thực hiện khảo sát bởi UNIDO, Bộ Kế hoạch và đầu tư quyết định chọn 5 doanh nghiệp thuộc khu công nghiệp Khánh Phú tham gia dự án. Đồng hành cùng dự án, tỉnh ủy Ninh Bình cam kết đồng tài trợ hơn 220 tỷ vnd để lắp đặt hệ thống chiếu sáng, trồng cây xanh tạo cảnh quan xanh-sạch-đẹp ở khu công nghiệp Khánh Phú.

Đây là cơ hội để Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Ninh Bình, các doanh nghiệp được chuyển giao công nghệ, học hỏi mô hình quản lý tiên tiến, đổi mới công nghệ theo hướng tăng sản lượng, tăng chất lượng sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo an toàn môi trường. Thêm đó, dự án cung cấp các khóa đào tạo chuyên sâu cho cán bộ chuyên trách Sở tài nguyên và môi trường, Sở công thương, Sở kế hoạch đầu tư, Ban quản lý các khu công nghiệp được tiếp cận kiến thức xây dựng mô hình khu công nghiệp sinh thái từ chuyên gia trong và ngoài nước giảng dạy. Dự án được triển khai từ năm 2014-nay đã có 10 doanh nghiệp tham gia và gặt hái được nhiều thành quả đáng phấn khởi. Vì vậy trong thời gian tới mô hình “Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái hướng tới mô hình khu công nghiệp bền vững” cần được nhân rộng ở tất cả khu công nghiệp nhằm thay đổi nhận thức doanh nghiệp, nâng cao năng lực đội ngũ hoạch định chính sách và thực hiện thành công “Phát triển khu công nghiệp xanh, bền vững, hiệu quả”.

 

Video: Triển khai sáng kiến khu công nghiệp sinh thái bền vững

Điểm Du Lịch Lý Thú Khi Đến Yên Bái

Suối Giàng

Suối Giàng là xã thuộc huyện Văn Chấn, có tổng diện tích tự nhiên 5.922 ha, có 4 nhóm dân tộc cư ngụ là người H’Mông, Tày, Kinh, Dao, trong đó người tộc H’Mông chiếm 98,5% dân số xã, còn lại các tộc khác chiếm gần 2%.

Suối Giàng tọa lạc ở độ cao 1.371m so với mực nước biển, khí hậu trong lành, mát mẻ quanh năm, nhiệt độ trung bình mùa hè thấp hơn những nơi khác trong huyện Văn Chấn từ 8-9°C. Suối Giàng giữ được nét hoang sơ, nét bình dị, tính vô tư thật thà, mến khách của người dân địa phương. Trải nghiệm thú vị khi được uống chén rượu ngô, ăn bát mèn mén, nghe điệu khèn tỏ tình, đi chơi chợ vùng cao,…để cảm nhận hết cái đẹp nơi địa đầu tổ quốc.

Ở Suối Giàng có hàng nghìn gốc chè Shan Tuyết cổ thụ có tuổi đời từ 100 năm-300 năm, trong đó có cây chè trên 300 năm được xếp là một trong 6 cây chè thủy tổ của thế giới mà vùng đất này may mắn còn lưu giữ. Chè có thân cây to lớn, xù xì, cành chè uốn lượn. Nhờ khí hậu quanh năm mát mẻ, mây mù giăng phủ nên chè có búp to, phủ lớp lông trắng mịn như nhung. Chè Shan Tuyết thu hoạch được ba đợt trong năm, hình ảnh 5-6 cô gái H’Mông trèo lên cây đứng hái chè mà hai tay thoăn thoắt, chiếc váy xèo giống như đóa hoa mọc trên cây chè to lớn là hình ảnh lạ lẫm đối với du khách lần đầu tiên đặt chân đến đây.

Sau khi chè được thu hoạch và chế biến qua nhiều công đoạn thủ công thì mới ra chè thành phẩm. Trong tiết thu se lạnh ngồi bên bếp lửa thưởng thức ly chè Shan Tuyết vàng óng, mùi thơm thanh nhã, vị chè mới uống thì đắng lúc sau cảm thấy ngọt ngọt trong cuống họng. Để có ấm chè Shan ngon người dân miền sơn cước dùng ấm đất nung già lửa, lấy nước suối thanh khiết ở khe núi về đun sôi. Sau khi cho nước sôi tráng qua chè rồi chế nước sôi đầy ấm cho bọt trào ra ngoài, đậy nắp ấm chờ 10 phút. Nước chè được rót ra các chén cùng một lúc để các chén có vị, màu như nhau.

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải

Những thừa ruộng bậc thang Mù Cang Chải nằm trên sườn phía Tây Nam dãy Hoàng Liên Sơn, trải dài bất tận trên diện tích hàng nghìn hecta thuộc huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái. Ruộng bậc thang nơi đây được xếp vào top những ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới. Đứng trên cao nhìn cánh đồng Mù Cang Chải nhuộm thắm sắc vàng, nắng nhè nhẹ, gió se lạnh, bầu trời xanh ngắt, mây bay hờ hững thật không biết phải dùng từ gì để diễn tả cảm giác lúc ấy.

Mù Cang Chải có độ dốc cao nên các thửa ruộng bậc thang có chiều ngang hẹp, độ chênh lệnh giữa thửa ruộng trên và dưới từ 1-1,5m, mặt bằng ruộng phải phẳng, mực nước ngâm chân lúa phải đều để lấy nước vào thì mỗi bậc thang mới cân bằng. Do đó, người H’Mông lúc san ruộng họ dùng cuốc bướm cào thành bờ đất, dùng gáy cuốc đập mạnh để nén chặc bờ, không cho nước rò rỉ và tạo nên đường vân mềm mại cho thửa ruộng. Bà con H’Mông lấy cây nứa bổ đôi làm máng dẫn nước để đưa nước từ khe suối trong rừng về tưới tiêu cho ruộng. Mỗi thửa ruộng đều khoét một lỗ ở phía dưới bờ ruộng, nước cứ thế chảy từ ruộng cao xuống ruộng thấp, khi nào lấy đủ nước thì bịt lỗ lại.

Vào khoảng tháng 9 (dương lịch), huyện Mù Cang Chải có tổ chức “Tuần Văn hóa – Du lịch Danh thắng Ruộng bậc thang Mù Cang Chải ”, bà con nhiều bản làng, nhiều tộc người cùng nhau xuống núi trẩy hội, gặp gỡ giao lưu, trai gái tìm bạn đời, thiếu nữ nào cũng áo váy rực rỡ, vòng bạc rung reng, nụ cười luôn nở trên môi. Du khách dưới xuôi, khách nước ngoài cũng tìm về đây để chiêm ngưỡng những thửa ruộng bậc thang óng ánh sắc vàng, tham gia chuỗi sự kiện lễ hội như: triển lãm ảnh ruộng bậc thang Mù Cang Chải, hội thi chọi dê, Festival dù lượn, thi đẩy gậy, tung còn, trình diễn se lanh và dệt vải của người H’Mông, trải nghiệm gặt lúa-tốt lúa-sảy lúa cùng bà con dân tộc, thổi khèn Mông, …

 

Video: Ruộng Bậc Thang Mù Cang Chải Nhìn Từ Flycam

Thưởng Thức Đặc Sản Trứ Danh Vùng Đất Bắc Giang

Bánh vắt vai

Bánh vắt vai là món ăn truyền thống của người dân tộc Cao Lan (còn gọi là người Sán Chỉ, Hờn Bận,… ) sống ở tỉnh Bắc Giang. Bánh có tên lạ như vậy là bởi xuất phát từ việc bánh có thể vắt trên vai khi đi đường và có thể ăn lúc nào cũng được. Loại bánh vắt vai thường được làm vào dịp tết, lễ hội nên các bà, các mẹ truyền dạy bí quyết làm bánh cho thiếu nữ Cao Lan từ thuở nhỏ.

Để làm được bánh vắt vai cần có nguyên liệu đậu xanh bỏ vỏ, lá ngải cứu, lá chuối xanh non, gạo nếp cái hoa vàng trồng ở vùng Phì Điền(thuộc huyện Lục Ngạn), nước vôi.

Cho lá ngải cứu vào nước vôi, luộc cho lá ngải cứu bớt vị đắng, vị chát rồi vớt ngải cứu ra xay nhỏ. Gạo nếp cho vào cối đá xay thành bột mịn. Tiếp đó, ta trộn lá ngải cứu đã xay nhỏ và bột gạo nếp để làm vỏ bánh. Phần nhân bánh, ta cho đậu xanh vào nồi, cho ít nước lọc vào và đun đến khi đậu xanh mềm, vớt đậu xanh ra đem giã cho nhuyễn rồi trộn với đường xào lên và nặn thành viên bi tròn để làm nhân bánh.

Để bánh có mùi thơm, phải dùng lá chuối non còn tươi, hơ lá chuối qua bếp than hồng sau đó mới gói. Lấy vỏ bánh đã chuẩn bị sẵn, cho viên đâu xanh vào giữa bánh và nặn thành hình tròn, bánh được đặt ở hai đầu lá chuối, để có thể gấp lại và vắt trên vai. Bánh cho vào nồi nước nguội, đun khoảng 2 giờ là vớt ra, bánh ăn phải có mùi ngái của lá ngải cứu, vị dẻo của nếp, vị bùi ngọt của đậu xanh. Bạn  đến Lục Ngạn vào dịp tết, mùa lễ hội tháng 3 âm lịch sẽ dễ dàng tìm mua bánh ở phiên chợ quê hoặc được người Cao Lan mời thưởng thức khi ghé thăm nhà họ.

Bánh đúc Đồng Quan

Làng Đồng Quan (huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang) cũng như bao ngôi làng miền Bắc khác cũng có ‘cây đa, giếng nước, mái đình’, có những người nông dân hiền lành, sống êm đềm bên ruộng lúa, nương khoai. Nhắc đến làng Đồng Quan làm người ta liên tưởng đến món bánh đúc Đồng Quan nức tiếng xa gần.

Bánh đúc chế biến từ loại gạo tẻ ngon, gạo ngâm vo sạch rồi ngâm trong ba ngày đêm, hàng ngày thay nước một lần, đến khi bóp hạt gạo trên đầu ngón tay thấy dẻo dẻo mới đem cho vào cối đá xay nhuyễn.

Đem vôi cục nướng lên, hòa vôi vào nước sạch rồi gạn lấy nước trong, đem nước vôi trộn vào gạo đã xay nhuyễn, khuấy hỗn hợp này lên để nấu bánh đúc. Các cụ cao niên có nhiều năm làm bánh đúc cho biết: khâu nấu và khuấy bánh là khâu quan trọng nhất, điều này phụ thuộc vào kỹ thuật và kinh nghiệm của từng người.

Đầu tiên chuẩn bị một cái nồi, cho ít dầu ăn tráng đều, rồi cho bột vào, bắc lên bếp, điều chỉnh lửa vừa phải, dùng đũa cả khuấy liên tục để bột không bị khê, không bị vón cục. Đến khi nồi bánh vừa chín tới thì tắt bếp, cho lạc rang đã bỏ vỏ, cho thêm dừa thái sợi vào, đậy nắp nồi lại, một lúc sau lại dùng đũa cả khuấy bột một lần nữa. Đổ nồi bánh nóng ra cái mẹt đã được trải lá chuối non ta sẽ được tấm bánh to tròn, nếu mình làm bột ít thì đổ ra bát sẽ được bánh nhỏ hơn.

Tấm bánh đúc Đồng Quan to tròn, trắng tinh, lấm tấm hạt lạc, dừa sợi nhìn rất là bắt mắt. Cầm miếng bánh đúc mà không thấy dính tay, chấm miếng bánh với tương bần rồi cho vào miệng cảm nhận được vị dẻo của gạo tẻ, mùi nồng của vôi, vị béo béo của lạc của dừa sợi sẽ làm cho thực khách không thể nào quên món ăn dân dã này.

Chè kho Mỹ Độ

Làng Mỹ Độ là ngôi làng nhỏ nằm cạnh dòng sông Thương hiền hòa, thuộc thành phố Bắc Giang. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, người dân nơi này vẫn giữ được món ăn truyền thống cha ông để lại, đó là món chè kho Mỹ Độ.

Nguyên liệu nấu chè là đậu xanh, đậu xanh hạt phải chắc, mẩy, đồng đều; ngâm đậu xanh trong nước khoảng ba giờ. Tiếp đó đãi đậu xanh lọc bỏ vỏ, rồi cho đậu xanh vào nồi, cho nước sạch ngập khoảng 1 đốt ngón tay thì bắt đầu nổi lửa. Khi nấu chè phải dùng củi, do củi giữ nhiệt lâu, dễ điều chỉnh lửa; công đoạn này rất quan trọng vì lửa lớn quá làm cháy đậu ở đáy nồi, lửa bé quá làm đậu xanh bị sượng, đậu chín không đều coi như hỏng.

Khi đậu nổi bọt lên, ta dùng vá vớt hết bọt, ninh nhừ đến khi cạn, rút củi, giảm lửa, chuyển nồi sang bếp than hồng cho đậu chín đều. Khi thấy đậu đã nhuyễn là ta cho đường trắng vào, cứ 1kg đậu xanh thì cho 1,3 kg đường trắng, nếu cho đường ít chè sẽ không sánh, dễ vỡ khi đổ ra khuôn.

Sau khi cho đường trắng vào chè dễ bị cháy ở đáy nồi nên chỉnh lửa nhỏ liu riu, dùng đũa cả khuấy chè liên tục, đều tay, khi nào chè sánh như mật thì cho vani vào và bắc nồi chè xuống bếp.

Múc chè còn nóng cho ra đĩa, vừa đổ chè vừa xoay đĩa để chè thành khuôn hình phẳng tròn đều, rồi rắc hạt vừng đã rang chín, bỏ vỏ lên đĩa mặt đĩa chè đậu xanh.

Đêm trăng thanh, gió mát ngồi thưởng thức đĩa Chè kho Mỹ Độ cảm nhận vị ngọt thanh của đường, vị bùi của đậu xanh, đâu đó thoang thoảng hương sen, tiếng kẽo kẹt mấy khóm tre già sau vườn mới thấy hết cái hay thú vui điền viên.