Tỉnh Ninh Bình, Tái Cơ Cấu Và Tìm Hướng Đi Mới Cho Ngành Nông Nghiệp

Vấn đề tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh nhà giai đoạn 2015-2020 theo định hướng năm 2030 với mục tiêu bố trí sắp xếp lại ngành nông nghiệp; đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác; hình thành vùng sản xuất thâm canh chất lượng cao, đảm bảo đủ tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm để xuất khẩu; huy động mọi thành phần kinh tế, mọi nguồn lực để xã hội hóa ngành nông nghiệp; tạo mắc xích liên kết nhà sản xuất-nhà tiêu thụ, nhà nước-nhà khoa học-nhà doanh nghiệp-nhà nông; nâng cao giá trị hiệu quả trên từng diện tích đất; tạo việc làm nâng cao đời sống nông dân và xây dựng thành công nông thôn mới.

Bà Quách Thị Ninh, nông dân xã Đồng Phong, huyện Nho Quan chia sẻ: “Nhà tôi có ba sào lúa, một năm cấy hai vụ lúa, trồng màu vụ đông, chăm bón vất vả cả năm trừ tất cả chi phí chỉ lãi hơn 1 triệu vnd, đấy là năm được mùa chứ có năm rét đậm, mưa bão thì thu không được bao nhiêu cả. Từ hai năm trở lại đây nhiều hộ trong xã chúng tôi cho Công ty Giống cây trồng và con nuôi Ninh Bình thuê đất trồng đậu tương để xuất khẩu sang Nhật Bản, mỗi năm được trả 70kg lúa/sào, 3 sào đã có hơn 2 tạ lúa, giá trị lúa cũng hơn 1 triệu vnd rồi, bằng thu nhập cày cấy cả năm. Ngoài ra, bà Ninh còn được công ty thuê làm việc nhà nông như bà vẫn làm theo sự hướng dẫn của cán bộ chuyên môn công ty, tiền công bà được trả từ 120-140.000 vnd/ngày/người, mỗi tháng cũng cho thu nhập trung bình khoảng 3 triệu vnd/người/tháng. ”

Chủ tịch hội đồng quản trị, Giám đốc hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp xã Đồng Phong, Ông Bùi Phú Hào, phát biểu: Xã chúng tôi chủ động thực hiện tái cơ cấu nông nghiệp ở địa phương bằng cách dồn ruộng thành thửa ruộng lớn để dễ đưa máy móc, phương tiện kỹ thuật vào sản xuất cánh đồng mẫu lớn. Xã Đồng Phong còn cho công ty thuê đất nông nghiệp từ năm 2016-nay, xã đã giao 85/196 ha đất nông nghiệp cho ba công ty thuê với thời hạn thuê từ 5 đến 10 năm để trồng rau sạch, lúa thương phẩm, đậu tương, khổ qua, khoai lang, khoai sọ,… Nhằm tạo thuận lợi cho bà con nông dân và doanh nghiệp, xã đứng ra làm trung gian thương lượng các điều khoản hợp đồng sao cho đôi bên cùng có lợi mà các hộ cho thuê đất cũng yên tâm. Trong hợp đồng, xã yêu cầu phía công ty phải hoàn trả đất đúng nguyên trạng sau khi kết thúc hợp đồng, không được làm biến đổi chất đất so với ban đầu, phải thuê lao động xã làm việc cho công ty,…Cùng với đó doanh nghiệp được ủy ban nhân dân xã hỗ trợ thủ tục pháp lý triển khai thuê đất; công ty chuyển giao kỹ thuật canh tác tiên tiến, tìm kiếm lao động địa phương,…Chính nhờ cách làm sáng tạo trên mà cùng một diện tích đất giá trị sản xuất được nâng cao, thu nhập người dân xã Đồng Phong được cải thiện.

Chủ tịch hội đồng quản trị, công ty Giống cây trồng và con nuôi Ninh Bình, Ông Vũ Văn Nga, phát biểu: Việc tích tụ đất ruộng thành cánh đồng mẫu lớn trong đề án tái cơ cấu nông nghiệp mang lại nhiều lợi ích cho người nông dân, địa phương và doanh nghiệp.
Đối với người nông dân: Có nguồn thu nhập định kỳ từ tiền thuê đất, được công ty nhận vào làm việc như một ‘công nhân’, được học hỏi kỹ thuật canh tác tiên tiến.
Đối với địa phương: Có nguồn thu ngân sách, phát triển nông nghiệp sạch theo hướng xuất khẩu ở địa phương, chấm dứt tình trạng ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật, giảm nghèo bền vững, tạo tiền đề thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới.
Đối với doanh nghiệp: Đưa cơ giới hóa, giống mới, qui trình sản xuất mới vào canh tác giúp nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Thêm vào đó, công ty cung cấp con giống, cây trồng, sản phẩm rau quả ra thị trường có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, tăng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp thu ngoại tệ đóng góp cho ngân sách nhà nước.

Ninh Bình triển khai tái cơ cấu nông nghiệp tỉnh là thực hiện một hợp phần tái cơ cấu tổng thể kinh tế phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế-xã hội gắn định hướng chung của TW. Tái cơ cấu phải ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất-thu hái-bảo quản-chế biến sản phẩm nông nghiệp, đa dạng nhiều hình thức liên kết trong sản xuất, người nông dân phải là chủ thể của quá trình tái cơ cấu. Kế hoạch đặt ra năm 2018-2020 giá trị tăng trưởng ngành nông nghiệp Ninh Bình hàng năm phải đạt trên 2%, giá trị sản phẩm thu được trên 1ha đất nông nghiệp là hơn 130 triệu vnd/ha.

Video: Ninh Bình Hợp Tác Phát Triển Nông Nghiệp Ứng Dụng Công Nghệ Cao

Tuyên Quang -Nâng Cao Giá Trị Sản Phẩm Chè

Tuyên Quang có khoảng 9.000 ha chè, là một trong những tỉnh có diện tích trồng chè lớn nhất vùng Đông Bắc. Cây chè được người dân trồng trên đất Tuyên Quang hơn 60 năm nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao, năng suất đồi chè còn chưa tương xứng với tiềm năng, công sức và lợi thế mà thiên nhiên đã ưu đãi ban tặng.

Diện tích nhiều, năng suất thấp

Theo báo cáo từ Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, cả tỉnh hiện có hơn 8.861 ha chè với 8.432 ha đang cho thu hoạch. Cụ thể, huyện Sơn Dương có 1.567 ha, huyện Yên Sơn có 2.937 ha, huyện Na Hang 1.366 ha, huyện Hàm Yên 2.137 ha, còn lại phân bố ở một số huyện khác gần 500 ha.
Số liệu năm 2016 cho biết, năng suất chè trung bình tỉnh Tuyên Quang đạt 78 tạ/ha, năng suất trung bình chung cả nước là 88 tạ/ha. Một số địa phương chè đạt năng suất thấp do trồng chè tự phát, chăm sóc theo kinh nghiệm, không ứng dụng giống mới cũng như tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác và chưa triển khai thâm canh chè.
Những vùng có năng suất cao là do hộ trồng chè nhận khoán chăm sóc vườn chè doanh nghiệp và bà con các xã gần đồi chè công ty nên được chuyển giao khoa học kỹ thuật thâm canh chè. Phải kể đến là Yên Sơn có hai doanh nghiệp là công ty chè Sông Lô, công ty chè Mỹ Lâm; huyện Sơn Dương có công ty chè Tân Trào. Đây đều là những nông trường trồng chè quốc doanh trước kia, giờ được chuyển thành công ty chuyên trồng, chế biến, kinh doanh chè chất lượng cao đã có thương hiệu ở trong và ngoài nước.
Diện tích chè đặc sản như giống chè Đại Bạch Trà, Ngọc Thúy, Bạch Hạc, Phúc Vân Tiên,… chiếm 20% diện tích; chè có năng suất cao, chất lượng chè tốt, thích hợp thâm canh, ít sâu bệnh như giống chè PH8, LDP1, LDP2,… chiếm 30% diện tích; chè Trung du có năng suất thấp, búp nhỏ, lá mỏng, thời gian trồng đến khi thu hoạch lâu, dễ bị thoái hóa giống, chiếm khoảng 50% diện tích chè toàn tỉnh. Tổng sản lượng chè tươi thu hoạch năm 2016 đạt 65.684 tấn, tăng 3.500 tấn so với cùng kỳ năm 2014.
Trên địa bàn tỉnh hiện có 45 công ty, hợp tác xã và cơ sở chế biến chè với công suất chế biến 16.850 tấn/năm. Chè nguyên liệu chỉ mới đáp ứng 40% công suất chế biến của các cơ sở sản xuất chè thành phần ở Tuyên Quang. Nhiều cơ sở có thiết bị máy móc, qui trình chế biến chè, thị trường tiêu thụ khác nhau dẫn đến chất lượng chè thành phẩm và giá thành chênh lệch cao. Ví dụ, chè Bát Tiên Mỹ Bằng có giá từ 350-500 triệu vnd/tấn, nhóm sản phẩm chè có thương hiệu tiêu thu nội địa có giá 100-120 triệu vnd/tấn, nhóm sản phẩm chè thô xuất khẩu có giá 20-43 triệu vnd/tấn,…


Nâng cao giá trị sản phẩm

Nhìn vào tình hình chung ngành chè tỉnh nhà, ta thấy còn nhiều bất cập khi chưa khai thác triệt để lợi thế đất đai, khí hậu, nguồn lực,thị trường,…
Nguyên nhân làm năng suất chè thấp, chất lượng chưa đảm bảo vì người dân sử dụng giống chè thoái hóa, mật độ gốc chè thưa, chăm sóc thâm canh chưa đúng qui trình, trồng chè ở nơi có độ dốc quá cao. Các công ty, cơ sở tự sản xuất chế biến chè thành phẩm chủ yếu là chè xanh truyền thống theo qui trình làm héo, đập dập, lên men, sấy tươi, định hình, sấy khô. Hiện chưa xây dựng đồng bộ qui trình từ chọn giống chè, trồng chè, thu hái, chế biến, qui định an toàn vệ sinh thực phẩm và đánh giá chất lượng sản phẩm chè nên diễn ra tình trạng “mạnh ai nấy làm”.
Để phát triển ngành chè, tỉnh ủy Tuyên Quang đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ như đưa cán bộ kỹ thuật nông nghiệp xuống từng xã để hướng dẫn kỹ thuật canh tác cho bà con nông dân, thay đổi giống chè chất lượng cao, áp dụng tiêu chuẩn VietGap cho vùng trồng chè nguyên liệu, hỗ trợ vay vốn sản xuất cho hộ trồng chè, tăng cường quảng bá đặc sản chè Tuyên Quang ở hội chợ trong và ngoài nước, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Tuyên Quang phối hợp cùng Sở công thương tỉnh tìm kiếm mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm chè,…Với mục tiêu nâng cao mức thu nhập cho người dân, giải quyết công ăn việc làm, đưa ngành chè trở thành ngành mũi nhọn và có đóng góp lớn cho ngân sách tỉnh nhà.

Video: Nâng cao giá trị cây chè Tuyên Quang

Lào Cai-Có Nhiều Bước Tiến Mới Trong Lĩnh Vực Nông Nghiệp

Ngành nông nghiệp Lao Cai phấn đấu không ngừng sau khi tái lập tỉnh năm 1991, cho đến nay nông nghiệp tỉnh cơ bản bảo đảm an ninh lương thực và đang phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa bền vững góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân.

Ủy ban nhân dân tỉnh chỉ đạo các Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở tài nguyên môi trường, Sở khoa học công nghệ, Sở công thương, Hội nông dân tỉnh phối hợp, tham mưu đưa ra đề xuất nâng cao chất lượng sản phẩm nông nghiệp, áp dụng khoa học công nghệ, hỗ trợ quỹ đất, tìm kiếm đầu ra sản phẩm, hỗ trợ con giống, giống cây trồng, phân bón,… Hình thành mô hình chuyên canh trên cánh đồng mẫu lớn để tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng chất lượng, giải quyết lao động thời vụ địa phương. Đồng thời, xây dựng liên kết nhà nước-nhà doanh nghiệp-nhà khoa học-nhà nông tạo chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện cho nông nghiệp tỉnh nhà.

Giai đoạn 2011-2015, giá trị sản xuất nông nghiệp Lào Cai tăng trung bình từ 9-10%; năm 2015 tình hình kinh tế thế giới có nhiều biến động bất lợi nhưng nông nghiệp tỉnh vẫn tăng 6%/năm. Từ năm 1991-1992 cơ cấu nội ngành có chuyển biến tốt, cụ thể tỷ trọng chăn nuôi toàn tỉnh tăng từ 19,2% lên 40,9%; ngành trồng trọt tỷ trọng giảm từ 80,8% xuống 59,1%(2015). Bình quân lương thực đầu người năm 1991 là 200kg/người/năm tăng lên 460kg/người/năm trong năm 2016, góp phần đảm bảo an ninh lương thực.

Lào Cai áp dụng thành công mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Hiện nay đã xây dựng vùng chuyên canh cây trồng chất lượng cao: 4.182 ha lúa giống cải tiến SRI, 641ha cây ăn quả nhiệt đới, 73 ha cây dược liệu, 282 ha cây ăn quả nhiệt đới, 650ha chè, 1.135 ha chuối cấy mô, 175ha rau an toàn, 880ha dứa cao sản,…Giá trị sản xuất trên 1ha đất tăng từ 6 triệu vnd (1991) lên 56 triệu vnd (2016). Đáng chú ý, giá trị canh tác có áp dụng công nghệ cao đạt 209 triệu vnd/ha (2016).

Các cơ quan khoa học của tỉnh đã nghiên cứu và lai tạo thành công giống lúa lai LC270, LC25 được Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn xếp vào bộ lúa giống quốc gia. Không những vậy, họ còn nhân giống cá chép, cá bỗng, trái lê tai nung, mận Lào Cai, đào Pháp; bằng công nghệ nuôi cấy mô sản xuất giống dâu tây, khoai tây, hoa đồng tiền, hoa hồng,…cung cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh.

Lĩnh vực lâm nghiệp, hàng năm đều triển khai trồng rừng mới, thực hiện tốt công tác quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng, tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ rừng, tập trung bảo vệ rừng nguyên sinh, rừng phòng hộ đầu nguồn. Tỷ lệ che phủ rừng của Lào Cai tăng 18,2%(1991) lên 53,6%(2016), đóng góp đáng kể cho ngân sách và tạo cân bằng môi trường sinh thái.

Ngành chăn nuôi đã hình thành mô hình trang trại lớn, đầu tư khoa học kỹ thuật, áp dụng mô hình sản xuất con giống, thức ăn, chuồng trại, quản lý, theo tiêu chuẩn VietGap. Tuy nhiên chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm đa số, mùa đông trâu bò hay bị chết rét gây tổn thất cho bà con nông dân.

Đại hội Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020 đặt ra mục tiêu đến năm 2020 tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành nông nghiệp đạt trung bình 6%/năm; giá trị bình quân đất canh tác đạt 80 triệu vnd/1ha, giá trị sản phẩm nông nghiệp áp dụng công nghệ cao trên diện tích đất 1ha phải đạt 260 triệu vnd; độ che phủ rừng cả tỉnh đạt 56%; tổng sản lượng lương thực đạt 330.000 tấn,…Để thực hiện đạt và vượt mục tiêu trên các cấp, ban, ngành cần nỗ lực nghiên cứu, đề xuất phương án xử lý, tháo gỡ khó khăn cho nông nghiệp, mời gọi doanh nghiệp đến đầu tư; quảng bá sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao của Lào Cai ở hội chợ trong và ngoài nước; thay đổi tập quán canh tác lạc hậu, đưa kỹ sư giỏi về địa phương hỗ trợ bà con nông dân,…

 

Video: Lào Cai tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghệ cao